Trong phần 3 của serie, chúng ta đã tìm hiểu về thành phần đầu tiên để tính vốn tối thiểu (minimum capital requirement), đó là các loại vốn của ngân hàng được xếp hạng là CET1, AT1, T2 tùy thuộc vào chất lượng của chúng. Phần lớn những loại vốn này có thể tìm thấy ở phần bên phải của bảng quyết toán (trách nhiệm pháp lý hay “Liabilities”).
Ở phần 4 của serie về Basel, chúng ta sẽ dần di chuyển sang cột bên trái của bảng quyết toán, đó là phần tài sản (Assets).
Mô hình kinh doanh truyền thống của ngân hàng là sử dụng vốn “giá rẻ”, như tiền gửi hay tiền tiết kiệm của khách hàng (cột phải của bảng quyết toán) để vận hành vào một số hoạt động kinh doanh như tín dụng hoặc đầu tư. Một phần lớn của những hình thức kinh doanh này sẽ được ghi nhận bên cột bên trái của bảng quyết toán dưới dạng là những khoản nợ hay những khoản đầu tư.
Chính vì vậy, cột bên trái của bảng quyết toán, nơi mà tài sản được liệt kê, có thể cho chúng ta phần nào thông tin về những hoạt động kinh doanh của ngân hàng
*Với mục đích đơn giản hóa các khái niệm, trong bài viết này, chúng ta sẽ tạm thời bỏ qua những vấn đề liên quan đến on-balance và off-balance sheet và tìm hiểu vấn đề này trong một bài viết khác nhé!
Tuy nhiên, trên bảng quyết toán, chúng ta chỉ có thể nhìn thấy giá trị của những tài sản theo góc độ kế toán. Để tính được số vốn tối thiểu, chúng ta cần phải tìm ra mức độ rủi ro của những hình thức kinh doanh.
Bởi lẽ này, trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu sơ lược về những loại rủi ro (được liệt kê bởi mô hình Basel) mà ngân hàng thường gặp phải. Đây là điều kiện tiên quyết để có thể hiểu được sâu sắc về cách tính tài sản rủi ro của Basel.

Credit Risk – Rủi ro tín dụng
Trong văn bản “Principles for the Management of Credit Risk“, mục I.2, rủi ro tín dụng được Basel định nghĩa như sau:
Credit risk is most simply defined as the potential that a bank borrower or counterparty will fail to meet its obligation in accordance with agreed terms
Định nghĩa đơn giản nhất của rủi ro tín dụng là khả năng mà bên vay tiền hay đối tác của ngân hàng không thể hoàn thành nghĩa vụ theo thỏa thuận.
Như vậy, theo Basel, rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro về tín dụng theo nghĩa gần cũng như rủi ro đối tác (counterparty risk).
Chúng ta lại quay lại với ngân hàng D để ví dụ cho hai loại rủi ro ở trên trong tình huống sau đây.
Ngân hàng D cho công ty A vay một khoản tiền là 100,-, thời hạn là 5 năm, lãi là 5% một năm. Sau khi khoản vay được thực hiện, ngân hàng D lại muốn “bảo đảm” khoản cho vay đối với công ty A. Chính vì thế, ngân hàng D đã tìm ngân hàng E để mua một loại “bảo hiểm” với điều lệ như sau: trong trường hợp công ty A không thể trả tiền cho ngân hàng D, ngân hàng E sẽ bồi thường số thiệt hại này cho ngân hàng D. Tất nhiên là ngân hàng D sẽ phải trả một khoản phí cho ngân hàng E. Sản phẩm bảo hiểm này còn có cái tên là “Credit Default Swap“.
Trong tình huống trên, ngân hàng D sẽ phải đối mặt với hai loại rủi ro:
- Rủi ro tín dụng theo nghĩa gần: trong thời hạn cho vay là 5 năm, nếu tình hình kinh doanh hay thị trường xấu đi, công ty A không thể hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với khoản vay này thì ngân hàng D sẽ đánh mất số tiền cho vay. Đây là rủi ro theo một chiều (unilateral), nghĩa là chỉ ngân hàng D phải chịu rủi ro.
- Rủi ro đối tác: cũng trong cùng thời hạn ở trên, ngân hàng D còn có thể đối mặt với rủi ro là ngân hàng E không hoàn thành nghĩa vụ của mình trong trường hợp công ty A “bùng” nợ. Như vậy, sản phẩm bảo hiểm mà ngân hàng D mua coi như không còn giá trị. Tuy nhiên, rủi ro này là rủi ro hai chiều (bilateral), bởi vì trong giao dịch này, ngân hàng E cũng chịu rủi ro nếu ngân hàng D không trả khoản phí bảo hiểm cho mình.
Việc cân nhắc đến rủi ro đối tác xuất hiện ở mô hình Basel sau sự kiện khủng hoảng nhà đất vào những năm 2008-2009. Trong thời bấy giờ, việc cả bên vay tiền và bên bảo hiểm đều không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ của mình là chuyện không hiếm. Các bạn có thể tham khảo thêm bộ phim The Big Short để có được một ví dụ cụ thể hơn về chủ đề này (nếu muốn mình viết bài phân tích thêm về chủ đề này thì comment cho mình biết nha :D).
Market Risk – Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường được định nghĩa trong mục MAR11.1 của The Basel Framework:
Market risk is defined as the risk of losses arising from movements in market prices.
Ruỉ ro thị trường được định nghĩa là rủi ro bị thua lỗ vì những biến động về giá cả trên thị trường
Ví dụ về rủi ro thị trường thì khá là đơn giản. Ngoài kinh doanh tín dụng, ngân hàng D còn dùng vốn để đầu tư vào thị trường chứng khoán với những sản phẩm khác nhau như cổ phiếu, trái phiếu hay phái sinh trên toàn thế giới. Về căn bản, giá trị của những sản phẩm này sẽ thay đổi lên xuống dựa trên nguyên lý “cung” và “cầu”.
Về phần rủi ro thị trường, Basel phân chia tài sản thành hai nhóm: nhóm được dự trữ ở Trading Book và nhóm được dự trữ ở Banking Book. Về cơ bản, nhóm được dữ trữ ở Trading Book là những tài sản được ngân hàng mua với mục đính đầu tư ngắn hạn, bán đi vào đúng thời điểm để kiếm lời. Còn nhóm được dự trữ ở Banking Book là những tài sản được ngân hàng đầu tư cho đến hết thời hạn (held to maturity), nghĩa là những đầu tư dài hạn hơn. Mục đích của việc phân chia này là để mô hình Basel có thể đưa ra những chính sách, yêu cầu về quản trị rủi ro phù hợp nhất đối với những tài sản trong hai nhóm trên.
Operational risk – Rủi ro hoạt động
Ngược lại với hai loại rủi ro ở trên, rủi roi hoạt động không được gây ra bởi những loại tài sản mà ngân hàng sở hữu. Theo mô hình Basel, mục OPE10.1, rủi ro hoạt động được định nghĩa như sau:
Operational risk is defined as the risk of loss resulting from inadequate or failed internal process, people, systems or from external events. This definition include legal risk, but excludes strategic and reputational risk.
Rủi ro hoạt động được định nghĩa là rủi ro về thua lỗ đến từ thất bại trong các yếu tố về quy trình nội bộ, con người, hệ thông hay biến cố từ bên ngoài. Định nghĩa này bao gồm rủi ro pháp lý, nhưng không bao gồm rủi ro về chiến lược hay danh tiếng.
Một ví dụ về rủi ro hoạt động trong thời đại hiện nay là rủi ro về công nghệ (Cyber Risk). Khi dịch vụ và các hoạt động của ngân hàng đều được “số hóa” thì ngân hàng sẽ trở nên rất “nhạy cảm” đối với những đợt tấn công của hacker. Nếu truy cập được vào hệ thống, hacker có thể thực hiện những hành vi chuyển tiền phi pháp hay ăn cắp thông tin cá nhân của khách hàng. Tất cả những hành vi này đều sẽ gây ra thiệt hại rất lớn đối với ngân hàng.
Liquidity Risk – Rủi ro thanh khoản
Loại rủi ro cuối cùng mà mình muốn nhắc đến là rủi ro về thanh khoản. Rủi ro thanh khoản được định nghĩa trong văn bản “Principles for Sound Liquidity Risk Management and Supervision” của Basel như sau.
Funding liquidity risk is the risk that the firm will not be able to meet efficiently both expected and unexpected current and future cash flow and collateral needs without affecting either daily operations or the financial condition of the firm.
Market liquidity risk is the risk that a firm cannot easily offset or eliminate a position at the market price because of inadequate market depth or market disruption.
Phần này Basel viết khá khó để dịch sát nghĩa nên mình sẽ dịch lại theo cách hiểu của mình. Rủi ro thanh khoản được chia ra làm hai loại đó là rủi ro thanh khoản về cấp vốn (Funding Liquidity Risk) và rủi ro thanh khoản thị trường (Market Liquidity Risk).
Rủi ro thanh khoản cấp vốn đến từ việc ngân hàng không thể quản lí dòng tiền một cách hiệu quả. Vì tính chất đặc thủ của hoạt động kinh doanh của ngân hàng, ngân hàng sẽ có những dòng tiền đã được dự tính từ trước (expected cashflow ~ tiền trả lương cho nhân viên, tiền chi phí vận hành, tiền trả lãi cho khách hàng, v…v…) và những dòng tiền không được dự tính từ trước (unexpected cashflows ~ khách hàng rút tiền đồng loại một cách đột ngột). Trong trường hợp dòng tiền không được quản lí tốt, ngân hàng thiếu hụt về thanh khoản sẽ phải thực hiện một số biện pháp cực đoan để có một khoản để chi trả (ví dụ như bán tháo tài sản với giá rẻ). Việc làm này trước mắt sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường và xa hơn nữa là dẫn đến những khoản thua lỗ ngoài ý muốn.
Rủi ro thanh khoản thị trường đến từ những sản phẩm của ngân hàng có tính chất thanh khoản thấp. Một ví dụ điển hình ở đây là bất động sản. Trái với những tài sản trên thị trường chứng khoán, việc mua bán bất động sản đòi hỏi một quá trình phức tạp và mất thời gian hơn. Khi có một nhu cầu về thanh khoản quá đột ngột, ngân hàng sẽ phải tìm cách bán đi bất động sản một cách nhanh nhất. Việc làm này sẽ làm giá bán của bất động sản bị giảm (thấp hơn nhiều so với giá thực tế) và cũng được coi như một dạng thua lỗ.
Thầy giáo về rủi ro thanh khoản có nói với mình một câu rất hay về nó. Đó là rủi ro thanh khoản là một loại rủi ro “thứ cấp” (secondary risk). Nghĩa là nó không đến ngay lập tức mà luôn đến từ một chuỗi những sự kiện “bất hạnh” . Thường thì ngân hàng sẽ không phải đối mặt với một lượng thanh khoản lớn đột ngột như vậy nếu họ không bị tổn hại bởi một trong những loại rủi ro khác từ trước.
*Các bạn có thể đọc lại bài viết của mình về sự kiện của ngân hàng Silicon Valley Bank ở đây để có một ví dụ cụ thể về rủi ro thanh khoản nhé!
Leave a comment