
As I sit down to write this blog, autumn has already arrived in Hanoi. People often say that autumn is the most beautiful season here. When we no longer have to “swim” through the sweltering, humid air of summer. The weather turns cool and dry, and the city feels lighter, more alive.
Along the Old Quarter streets, trees are slowly changing into their new coats. Crowds bustle about, chatting, laughing, taking photos. We often joke that during this season, every square meter of Hanoi seems to hold a few “muses”. But who could blame them? Under such a poetic and romantic scenery, who wouldn’t want to capture a moment for themselves?
My own happiness in this crisp autumn air is a little different: I reserve my longing for a steaming bowl of… Phở.
In the gentle chill of fall, sitting at a small sidewalk stall, gazing out over the busy Hanoi streets while savoring a bowl of Phở, to me, that is truly… the taste of heaven on earth. Perhaps it’s moments like these that make life feel so warm, so full, and so complete.
Where Phở came from, and how it evolved, could fill an entire book. I don’t wish to get lost in the crossfire of debates and endless arguments over its origin. In this post, I simply want to share with readers around the world my own memories and honest feelings toward this beloved dish.
My very first memory of Phở is tied to my grandfather. I don’t remember him clearly, it was such a short time between my birth and the moment our family moved to Germany.
From the stories my relatives told, I learned that he was a man of the old generation: conservative, strict, and above all, a stern father. Among all my cousins, he never carried or doted on any of them. Yet somehow, I became the exception. Perhaps because I was the youngest grandchild (my mother being his youngest daughter) or maybe he had grown softer with age. Whatever the reason, I was the only grandchild he ever held in his arms.
My mother told me that every morning, he would take a “cặp lồng” (a traditional metal food container) and go out to buy Phở for me. Maybe that’s where my “addiction” to Phở began.
Because my father was assigned a work mission in Germany, our family lived there for a few years. In 1998, when his term ended, we returned to Vietnam. And once again, it was the familiar aroma of Phở that welcomed me home.
At the entrance of the alley where we lived stood a small Phở stall. Every morning, no matter where I was headed, I had to pass through that irresistible cloud of fragrance: roasted onion and ginger blending with star anise, cinnamon, and the sweetness of broth simmered overnight from beef bones. It was impossible to resist. I just wanted to follow that scent, let it lead me to the low plastic stool on the sidewalk, and slurp a steaming bowl of Phở to my heart’s content.
Our family wasn’t well-off; both my parents were government employees. But my mother, ever indulgent, gave me money for breakfast every morning. How should I put it, perhaps being pampered leads to… “bad” habits? But oh well, whether that’s good or bad, I’ll let others decide. All I know is that my love for Phở only grew stronger with time. Sometimes, when my parents were busy with work and couldn’t come home for lunch, I felt secretly delighted. Because that meant I’d get to “solve” my meal with a bowl of Phở. For me, it is a small salvation in the middle of the day before I had to return to class in the afternoon.
To me, Phở is a dish intertwined with childhood, with family love and warmth. When I moved to Germany, I tried everything to recreate the authentic Vietnamese Phở. But no matter how I cooked it, it never tasted quite the same.
Was it because the ingredients were different? Was it the German weather dulling my senses? Or perhaps, simply, the water I used to make the broth wasn’t the same?
Nah… I later realized what was missing wasn’t an ingredient at all. What was missing was… the flavor of home.
Lúc tôi ngồi viết bài blog này, Hà Nội đã trở thu. Người ta nói rằng, mùa thu là mùa đẹp nhất ở Hà Nội, con người ta không còn phải “bơi” trong cái tiết trời oi ả và ẩm thấp, không khí mát dịu, khô ráo. Trên con phố cổ, những hàng cây đang chầm chậm thay áo mới, người người đi lại tấp nập, cười nói, chụp hình. Chúng tôi thường nói đùa nhau rằng, Hà Nội mùa này, cứ mỗi mét vuông lại có 1 vài “nàng thơ”. Cũng đâu “trách” được các em vì dưới cái khung cảnh nên thơ và trữ tình này, ai chẳng muốn dành cho mình 1 khoảnh khắc.
Cái niềm hạnh phúc của riêng bản thân tôi trong cái tiết trời thu lại có chút khác biệt, tôi dành sự thèm thuồng của mình cho 1 bát… Phở
Dưới cái tiết trời thu hơi se lạnh, ngồi ở 1 quán vỉa hẻ, nhìn ra khung cảnh đường phố Hà Nội mà được đánh 1 bát Phở nữa thì đối với tôi, đó chính là … Mỹ Vị Nhân Gian. Có lẽ trong cuộc đời, chính những khoảnh khắc như vậy làm tôi cảm thấy cuộc sống thật no ấm, thật trọn vẹn và thật đủ đầy.
Phở được bắt nguồn từ đâu, phát triển ra sao là cả 1 công trình nghiên cứu. Tôi không muốn đi lạc giữa “làn đạn” của những ý kiến trái chiều, những cuộc cãi vã không hồi kết về nguồn gốc của Phở. Trong bài viết này, tôi chỉ muốn chia sẻ với các bạn đọc trên thế giới về những kỷ niệm và cảm xúc chân thật của mình đối với món Phở.
Kỷ niệm đầu tiên của tôi với món Phở có lẽ là kỷ niệm với ông ngoại. Ký ức của tôi về ông không quá rõ ràng vì đó là quãng thời gian ngắn ngủi khi tôi được sinh ra và trước khi gia đình tôi chuyển sang Đức sống. Nghe người thân trong gia đình tôi kể về ông, tôi chỉ biết rằng ông là người thuộc thế hệ cũ, khá bảo thủ và trên hết là rất nghiêm khắc trong việc dạy con.
Trong số tất các anh chị em họ của tôi, ông không bế ẵm bất kỳ 1 đứa nào cả. Tuy nhiên, không biết có phải do tôi sinh sau đẻ muộn, là đứa con út ít trong nhà (mẹ tôi cũng là con út của ông tôi) hay do ông thay đổi tính khí khi đã lớn tuổi, mà tôi lại là đứa cháu duy nhất được ông bế. Không những vậy, mẹ còn kể tôi rằng, ông chính là người sáng sáng thường xách “cặp lồng” lên để đi mua Phở cho tôi ăn. Phải chăng, cái thói “nghiện” phở của tôi bắt đầu từ đây?
Vì ba tôi được cơ quan cử đi công tác nhiệm kỳ tại Đức, nên gia đình tôi chuyển qua Đức sinh sống 1 vài năm. Đến năm 1998, ba tôi hết nhiệm kỳ, gia đình chúng tôi mới trở về Việt Nam. Lúc này, cũng lại chính mùi hương quen thuộc của Phở đã chào đón tôi. Đầu con ngõ mà tôi sinh sống chính là 1 hàng Phở. Buổi sáng thức dậy, cứ hễ muốn đi đâu thì sẽ phải vượt qua sự “cám dỗ” của mùi hành tây và gừng nướng hòa quyện với quế, hồi, và vị ngọt từ nồi xương hầm đã được ninh từ tối hôm trước. Thật khó mà kìm lòng, chỉ muốn trôi theo cái mùi hương đó, để nó dẫn mình đến hàng ghế nhựa ngay trên vỉa hè, xì sụp 1 bát phở nóng hổi cho thỏa cơn thòm thèm.
Gia đình chúng tôi không phải thuộc loại khá giá, ba mẹ tôi đều là là công chức nhà nước. Nhưng có lẽ vì tính “chiều” con của mẹ mà sáng nào mẹ cũng cho tôi tiền để ăn sáng. Nói sao nhỉ, con người được chiều chuộng sẽ sinh ra những thói quen… “xấu”? Mà thôi cũng kệ, “tốt” hay “xấu” hãy để người đời đánh giá. Tôi chỉ biết rằng, tình yêu của mình đối với món Phở cũng được tiếp tục nuôi dưỡng. Nhiều lúc ba mẹ tôi bận chuyện cơ quan, không thể về lo bữa cơm trưa cho cả nhà. Tôi vốn chẳng phải đứa thích ăn cơm, thầm “hớn hở” khi biết rằng mình sắp được “giải quyết” bữa trưa bằng một bát phở, cũng coi như một sự “cứu rỗi” nho nhỏ trong giờ nghỉ trưa, trước khi tôi phải quay lại giảng đường vào đầu giờ chiều.
Đối với tôi mà nói, Phở là món ăn gắn liền với tuổi thơ, với tình yêu thương của gia đình. Khi sang Đức, tôi cũng đã mầy mò đủ các phương pháp để nấu cho ra món Phở như ở Việt Nam. Nhưng vị Phở mà tôi nấu ra vẫn không thể giống như hương vị mà tôi đã được thưởng thức ở nhà. Có phải vì nguyên liệu không giống nhau? có phải vì thời tiết Đức ảnh hưởng đến vị giác của tôi? Hay đơn giản là vì nguồn nước mà tôi sử dụng để hầm nước dùng vốn dĩ đã khác nhau?
Không… sau này tôi mới nhận ra, cái hương vị còn thiếu đó, chính là hương vị của … quê hương.
Leave a comment